Công cụ làm việc cá nhân





Tài liệu cơ bản về Australia và quan hệ Việt Nam - Australia


I. KHÁI QUÁT CHUNG

Tên nước: Australia thuộc khối Thịnh vượng chung (The Commonwealth of Australia)

Thủ đô: Canberra

Vị trí địa lý: nằm ở bán cầu Nam, bao bọc bởi Nam Thái Bình Dương ở phía Đông, Ấn Độ Dương ở phía Tây, Biển A-ra-phu-ra ở phía Bắc và Nam Đại Dương ở phía Nam.

Khí hậu: Khô, nhiệt đới (ở phía Bắc) và ôn đới (ở phía Nam). Nhiệt độ trung bình khoảng 270 C (phía Bắc) và 130 C (phía Nam).

Tài nguyên: Giàu khoáng sản như vàng, bôxít, sắt, kẽm, đồng, kim cương, than, uranium, dầu khí và thiếc; đất đai, khí hậu thuận lợi cho phát triển nông nghiệp.

Diện tích: Gần 7.7 triệu km2

Dân số: 22,6 triệu người (ước tính năm 2011), trong đó người châu Âu chiếm 92%, châu Á 6%, thổ dân 2%.

Ngôn ngữ chính: Tiếng Anh (80%).

Ngày Quốc khánh: 26/01/1788 (Australian Day)

Đơn vị tiền tệ:  Đô la Australia; 1AUD = 1,06 USD (6/2011)

Thu nhập bình quân đầu người: 55.589 USD năm 2010 (số liệu của IMF ước tính năm 2010)

Lãnh thổ: 6 tiểu bang (New South Wales, Queensland, South Australia, Victoria, Tasmania, Western Australia);  2 vùng lãnh thổ Thủ đô Australia - Australian Capital Territory và phía Bắc - Northern Territory) và một số đảo, quần đảo.

II. LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN

Những cư dân đầu tiên đến sinh sống tại lục địa Australia từ cách đây hơn 40.000 năm. Năm 1770, thuyền trưởng James Cook (Vương quốc Anh) là người châu Âu đầu tiên tới khám phá vùng bờ biển phía Đông lục địa Ô-xtrâylia và khẳng định chủ quyền của Vương quốc Anh đối với vùng đất này.

Ngày 26/01/1788, thuyền trưởng Arthur Philip đưa 750 người từ Anh đi đày sang Australia, mở đầu thời đại di cư của người châu Âu đến Australia. Thuộc địa đầu tiên được tuyên bố thành lập tại New South Wales (07/02/1788). Sự kiện các mỏ vàng được tìm thấy vào năm 1851 đã mở đầu thời kỳ tăng mạnh số lượng người nhập cư, phần lớn đến từ Anh, Ai-len, khu vực Trung Đông, châu Á và Mỹ Latinh.

Australia chính thức giành được độc lập từ ngày 01/01/1901. Các đạo luật được thông qua năm 1942 và năm 1986 đã mang lại chủ quyền tuyệt đối cho Australia trong mọi lĩnh vực.

III. THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ

Australia theo chế độ quân chủ lập hiến, là quốc gia độc lập, thành viên khối Liên hiệp Anh. Nữ hoàng Anh Elizabeth II cũng là Nữ hoàng của Australia, là người đứng đầu Nhà nước; đại diện của Nữ hoàng trên toàn lãnh thổ Australia là Toàn quyền và tại mỗi bang là Thống đốc. Người đứng đầu Chính phủ là Thủ tướng, có nhiệm kỳ 03 năm. Thủ tướng chỉ định các Bộ trưởng trong nội các. Hệ thống chính trị được xây dựng theo cơ cấu liên bang - tiểu bang.

Cơ cấu chính quyền: Toàn quyền (đứng đầu Nhà nước), Quốc hội (lập pháp), Chính phủ (hành pháp), và các ngành tư pháp ở 2 cấp liên bang và tiểu bang. Chính phủ mỗi bang do một Thủ hiến (thủ lĩnh phe chiếm đa số trong Hạ viện bang) đứng đầu.

Quốc hội liên bang là cơ quan lập pháp cao nhất, gồm 2 viện: Hạ viện và Thượng viện. Quốc hội mỗi bang cũng gồm 2 viện. Hạ viện liên bang gồm 150 Hạ nghị sĩ (nhiệm kỳ 3 năm), được bầu theo hệ thống bầu phiếu phổ thông lựa chọn ưu tiên và căn cứ trên số đơn vị bầu cử của mỗi Tiểu bang (ứng với số dân nhất định), tiểu bang nào càng đông dân, sẽ có nhiều đại biểu tại Hạ viện. Chủ tịch Hạ viện là người của Đảng cầm quyền. Thủ lĩnh của đảng hoặc liên đảng chiếm đa số trong Hạ viện được bầu là Thủ tướng. Thượng viện liên bang gồm 76 Thượng nghị sĩ. Mỗi bang được bầu 12 Thượng nghị sỹ (nhiệm kỳ 6 năm), riêng hai vùng lãnh thổ trực thuộc được bầu 02 Thượng nghị sỹ (nhiệm kỳ 3 năm), bất kể dân số thế nào.

Ngành tư pháp có 2 cấp: Tòa án Tối cao và Tòa án cấp bang.

Thể chế chính trị: đa đảng (Các đảng lớn gồm Công đảng, Đảng Tự do, Đảng Quốc gia, Đảng Dân chủ, Đảng Xanh...). Tổng tuyển cử được tổ chức 3 năm một lần; lần gần đây nhất vào ngày 21/8/2010, trong đó Công đảng giành được 72/150, Liên đảng đối lập giành được 73/150 ghế tại Hạ viện. Sau đó Công đảng liên minh với 01 nghị sỹ của đảng Xanh và 03 nghị sỹ độc lập để thành lập Chính phủ thiểu số.

Các Lãnh đạo chủ chốt hiện nay:
+ Toàn quyền: Bà Quentin Bryce
+ Thủ tướng: Bà Julia Gillard - được Công đảng cầm quyền bầu làm Lãnh tụ đảng (nghiễm nhiên thành Thủ tướng) từ tháng 6/2010 và sau cuộc bầu cử ngày 21/8/2010, Công đảng thành lập Chính phủ thiểu số, bà Gillard được bầu lại làm Thủ tướng thứ 27 của Australia.
+ Chủ tịch Thượng viện: Ông John Hogg
+ Chủ tịch Hạ viện: Ông Harry Jenkins
+ Lãnh tụ đối lập: Ông Tony Abbott
+ Ngoại trưởng: Ông Kevin Rudd

IV. KINH TẾ-XÃ HỘI

Australia có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế (đất đai, tài nguyên giàu có); khí hậu cơ bản thuận lợi; nguồn nhân lực có trình độ cao. Hiện Australia có nền kinh tế công-nông nghiệp phát triển (dịch vụ 70%, công nghiệp 26%, nông nghiệp 4%). Các sản phẩm nông nghiệp chủ yếu gồm bột mỳ, mía đường, hoa quả, gia súc, gia cầm. Các ngành công nghiệp chủ yếu gồm khai mỏ, thiết bị công nghiệp và giao thông vận tải, chế biến thực phẩm, hóa chất và thép. Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là than đá, len, thép, thịt, máy móc và thiết bị vận tải; thị trường xuất khẩu chính là Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, New Zealand, Ấn Độ. Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là máy móc, thiết bị, máy tính và thiết bị văn phòng, dầu thô, thiết bị viễn thông; thị trường nhập khẩu chính là Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Đức, Singapore, Anh.

Năm 2007, GDP của Australia đạt 889,7 tỷ USD tăng 4,73%, cao nhất trong 11 năm; thặng dư ngân sách 13 tỷ USD; tỷ lệ thất nghiệp là 4,4% (thấp nhất trong thập kỷ qua). Năm 2008 và đầu năm 2009, kinh tế Australia cũng gặp một số khó khăn do tác động của tình hình kinh tế thế giới, mức tăng trưởng cả năm 2008 là 2,38% và 2009 còn 1,33%. Chính phủ đã có những bước đi quyết liệt nhằm cứu vãn nền kinh tế: chi gói kích cầu; hạ lãi suất tiết kiệm, giảm thu nhận lao động nước ngoài; giảm thuế thu nhập, sửa đổi Luật đầu tư nước ngoài nhằm thu hút nguồn FDI vào Australia ... Nhờ đó kinh tế Australia đã dần hồi phục, tăng trưởng GDP năm 2010 là 2,7%; lạm phát và tỉ lệ thất nghiệp thấp (2,7% và 5%). Tuy nhiên, do ảnh hưởng của trận lụt lịch sử tại một số bang đầu năm 2011 nên GDP quý 1/2011 chỉ tăng 1% so với cùng kỳ năm ngoái và giảm 1,2% so với Quý 4/2010.

V. ĐỐI NGOẠI

Chính phủ Công đảng lên cầm quyền từ năm 2007 tích cực triển khai chính sách đối ngoại với 3 trụ cột chính là: (i) tăng cường quan hệ đồng minh với Mỹ, (ii) tăng cường quan hệ với khu vực châu Á - Thái Bình Dương; và (iii) tích cực tham gia vào các thể chế đa phương, trong đó có LHQ.

Với Mỹ, Australia xác định là đồng minh truyền thống và đối tác quan trọng nhất trong Chính sách đối ngoại. Các Thủ tướng Australia đều thăm Mỹ ngay sau nhậm chức (gần đây nhất là chuyến thăm của Thủ tướng Julia Gillard tháng 3/2011); hai bên tổ chức Đối thoại Chiến lược cấp Bộ trưởng Ngoại giao và Quốc phòng (AUSMIN) thường niên (gần nhất là tháng 01/2011); Australia hoan nghênh Mỹ tăng cường sử dụng quân cảng của mình, thường xuyên tiến hành tập trận chung và mua vũ khí của Mỹ.

Bên cạnh Mỹ, Australia cũng tăng cường quan hệ với các nước chủ chốt tại Châu Á-Thái Bình Dương. Với Trung Quốc: Thủ tướng Australia thường xuyên thăm Trung Quốc, gần đây nhất là tháng 4/2011, đón lãnh đạo Trung Quốc (Phó Thủ tướng (11/2009 và 6/2010), Phó Chủ tịch Quân uỷ Trung ương (5/2010), Phó Chủ tịch (6/2010) và Chủ tịch Chính hiệp (MTTQ) sang thăm. Trung Quốc hiện là đối tác thương mại lớn nhất của Australia với kim ngạch thương mại song phương đạt hơn 100 tỷ AUD năm 2010. Với Ấn Độ, Australia cũng chú trọng cải thiện quan hệ; Ngoại trưởng (3/2010) và Bộ trưởng Thương mại Australia (5/2010) thăm Ấn Độ để triển khai Đối tác Chiến lược và thúc đẩy ký kết FTA; hai bên duy trì Đối thoại thường niên giữa hai Bộ trưởng Ngoại giao. Thủ tướng Australia thăm Nhật Bản (4/2011), đón Ngoại trưởng (2/2010) và Bộ trưởng Thương mại (2/2011) Nhật Bản; ký Hiệp định tiếp nhận và trao đổi hậu cần xuyên biên giới ACSA (5/2010); thăm Hàn Quốc (4/2011).

Australia gắn kết chặt chẽ hơn với các nước trong ASEAN; tích cực đề cao vai trò tại các thể chế khu vực như EAS, APEC... và đẩy mạnh phát triển thương mại thông qua Hiệp định Thương mại Tự do AANZFTA. Lãnh đạo cấp cao của Australia thường xuyên thăm Indonesia: Thủ tướng Kevin Rudd dự lễ nhậm chức của Tổng thống Indonesia Susilo Bambang (10/2009); Thủ tướng Julia Gillard (11/2010); Ngoại trưởng (7/2010 và 7/2011) và Bộ trưởng Thương mại (4/2011) thăm Indonesia; và đón Tổng thống (3/2010), Ngoại trưởng Indonesia (02/2011). Australia viện trợ cho Indonesia gần một nửa trong tổng số viện trợ cho toàn khu vực. Với các nước ASEAN khác, Thủ tướng Julia Gillard thăm Malaysia (01/2011) và đón Thủ tướng Malaysia sang thăm (3/2011); hai nước ra tuyên bố chung về giải pháp xử lý vấn đề người tị nạn (7/2011). Australia đón Ngoại trưởng Singapore (tháng 6/2010) và cử Bộ trưởng Thương mại thăm Singapore (11/2010). Bộ trưởng Ngoại giao Australia thăm Thái Lan (5/2011), Timor Leste (7/2011).Ngoài ra, Australia cũng tiến hành tập trận thường niên với một số nước ASEAN và ký Tuyên bố chung chống tội phạm với Campuchia (4/2010)…

Ngoài ra, Australia cũng tăng cường hơn nữa quan hệ với Nam Thái Bình Dương, Thủ tướng Julia Gillard sau khi lên nhậm chức đã bổ nhiệm thêm chức vụ Thư ký Quốc hội phụ trách Nam Thái Bình Dương; thăm New Zealand (3/2011), đón Thủ tướng New Zealand (6/2011) và viện trợ 5 triệu AUD khắc phục hậu quả động đất (3/2011). Bên cạnh đó, Australia cũng đẩy mạnh vai trò lớn hơn tại LHQ và các diễn đàn đa phương; tích cực vận động để trở thành Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an/LHQ nhiệm kỳ 2013-2014; gia nhập ASEM (10/2010); tham gia các Hội nghị G8 và G20, vận động các nước ủng hộ sáng kiến thành lập Trung tâm xét duyệt hồ sơ tị nạn và các sáng kiến tại EAS, ARF, ADMM+…

VI. QUAN HỆ VIỆT NAM - AUSTRALIA

Ngày 26/02/1973, Việt Nam và Australia thiết lập quan hệ ngoại giao và tiến hành lập Đại sứ quán tại mỗi nước. Đến nay, quan hệ song phương giữa hai nước phát triển mạnh mẽ và mở rộng trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, thương mại, đầu tư, an ninh quốc phòng, giáo dục đào tạo, du lịch… Trong chuyến thăm Australia của Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh (9/2009), hai bên nhất trí nâng quan hệ lên Đối tác Toàn diện. Tình hình hợp tác trên các lĩnh vực cụ thể như sau:

1. Chính trị: Hai bên thường xuyên trao đổi chuyến thăm và tiếp xúc cấp cao. Thủ tướng Julia Gillard thăm không chính thức nhân Hội nghị Cấp cao Đông Á 5 (10/2010); Bộ trưởng Ngoại giao Kevin Rudd (4/2011); Toàn quyền Quentin Bryce (5/2011) thăm chính thức để tăng cường hợp tác cả song phương và trên các diễn đàn khu vực. Hai nước đã ký kết Chương trình Hành động Việt Nam - Australia giai đoạn 2010-2013 (10/2010), tạo khuôn khổ pháp lý cho hợp tác nhiều mặt thời gian trước mắt và tích cực duy trì các cơ chế hợp tác song phương như Đối thoại Chiến lược, Ủy ban Hỗn hợp về Hợp tác Kinh tế Thương mại JTEC, Tư vấn Lãnh sự, Đối thoại về các tổ chức quốc tế và các vấn đề pháp lý ... 

2. Thương mại: Việt Nam là bạn hàng thứ 15 của Australia, Australia là bạn hàng thứ 13 của Việt Nam. Kim ngạch thương mại giữa hai nước luôn tăng đều và khá cao, từ mức 32,3 triệu USD năm 1990 lên 5,585 tỷ USD năm 2008 (ta xuất 4,225 tỷ, nhập khẩu là 1,360 tỷ USD). Tuy nhiên, do tác động của khủng hoảng tài chính, kim ngạch thương mại song phương năm 2009 chỉ đạt 3,327 tỷ USD (trong đó ta xuất 2,277 tỷ, nhập 1,050 tỷ USD); tính đến hết năm 2010 kim ngạch thương mại song phương đạt 3,776 tỷ USD, tăng 14% so với năm 2009 (trong đó ta xuất 2,5 tỷ USD, nhập khẩu 1,16 tỷ USD); trong 9 tháng đầu năm 2011, kim ngạch thương mại song phương đạt 3,65 tỷ USD (trong đó ta xuất 1,98 tỷ, nhập 1,67 tỷ USD)1. Tại HNCC ASEAN 14 tại Hua Hin, Thái Lan (3/2009), Australia đã chính thức công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường.

3. Đầu tư: Các dự án đầu tư của Australia được triển khai khá hiệu quả, tập trung vào lĩnh vực công nghiệp và xây dựng, dịch vụ, giáo dục, công nghiệp chế biến, nông lâm ngư nghiệp.... Tính đến tháng 8/2011, Australia có 243 dự án với tổng vốn đầu tư 1,23 tỷ USD, đứng thứ 20/92 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam2.

4. Giáo dục-đào tạo: Bạn cam kết tài trợ cho ta khoảng 398 học bổng ngắn và dài hạn/năm, trong đó có 225 suất học bổng sau đại học từ năm 2009 (tăng 50 suất so với năm 2008) và 30 học bổng tại Học viện Hoàng gia Melbourne RMIT, cơ sở đào tạo cấp đại học nước ngoài đầu tiên tại Việt Nam. Hiện có 25.000 sinh viên và nghiên cứu sinh Việt Nam đang học tập tại Australia (nước có số lượng lưu  học sinh lớn nhất). Ngoài ra, có khoảng 15.000 người đang học tại các cơ sở của Australia tại Việt Nam, trong đó có 6000 sinh viên Đại học RMIT. Nhiều trường Đại học của Việt Nam có những chương trình liên kết đào tạo ở bậc đại học và sau đại học với các trường của Australia. Hai nước đã ký Thoả thuận Hợp tác Giáo dục (02/2008).

5. ODA: Bạn cam kết dành cho ta 119,8 triệu AUD trong năm tài khoá 2010-2011 và 137,9 triệu AUD năm tài khoá 2011-2012. Nhân dịp Thủ tướng Australia sang Việt Nam dự Hội nghị Cấp cao Đông Á tháng 10/2010, hai bên đã ký Thoả thuận nguyên tắc về dự án kết nối khu vực trung tâm đồng bằng sông Cửu Long, trong đó Australia viện trợ không hoàn lại cho ta 160 triệu AUD để xây dựng cầu Cao Lãnh. 

6. An ninh, quốc phòng: Ngày càng phát triển và mang lại hiệu quả thiết thực. Tư lệnh cảnh sát Australia thăm Việt Nam (3/2010) và khai trương Trung tâm phòng chống tội phạm xuyên quốc gia tại Tp. HCM. Hai bên đang đàm phán về Hiệp định dẫn độ tội phạm và Hiệp định tương trợ tư pháp. Australia là nước đứng đầu về đào tạo tiếng Anh và chuyên môn cho cán bộ quân đội Việt Nam (với tổng số 1284 người, 839 tại Việt Nam và 445 tại Australia tính đến hết tháng 1/2011). Ta đã hợp tác tốt với Bạn và hoàn tất việc tìm kiếm hài cốt lính Australia mất tích trong chiến tranh (đã trao trả được 6 bộ hài cốt). Hai bên đã ký MOU về Hợp tác Quốc phòng nhân dịp Bộ trưởng Quốc phòng Australia sang Việt Nam dự Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM Plus) tháng 10/2010.

7. Các lĩnh vực khác:
Lao động: Kể từ năm 2006 đến nay, ta đã đưa được khoảng 1000 lao động Việt Nam sang làm việc tại Australia trong các ngành dịch vụ (bán vé, bán hàng qua điện thoại, đầu bếp) và một số ngành kỹ thuật đòi hỏi tay nghề cao (thợ sơn, thợ hàn, lắp ráp ô tô…) và đang xúc tiến đàm phán và ký kết Chương trình Lao động Kỳ nghỉ theo khuôn khổ Chương trình Hành động.

Nông nghiệp: chủ yếu ở một số lĩnh vực như cải thiện quản lý nhà nước, phát triển nông thôn, nâng cao sinh kế và phát triển nguồn nhân lực; tuy nhiên đến năm 2010 nhiều chương trình và dự án lớn do Australia tài trợ đã kết thúc, hiện còn Chương trình hỗ trợ cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường tại Việt Nam.

Giao thông vận tải: đường không: Hiệp định Vận chuyển Hàng không được ký ngày 31/7/1995 ; tháng 01/2011, hai bên họp tổng kết về triển khai Hiệp định và ký MoU cam kết tăng cung tải và tự do hoá thương quyền. Hiện Vietnam Airlines có 7 chuyến bay/tuần đến Australia và Jetstar của Australia có 3 chuyến từ Sydney tới TP HCM. Đường bộ: Hiện Chính phủ Australia đồng tài trợ với ADB và Hàn Quốc 2 dự án : (i) Đường hành lang ven biển phía Nam (trong khuôn khổ hợp tác tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng, Australia cùng ADB đã tài trợ 25 triệu USD từ năm 2008) và (ii) dự án Kết nối Trung tâm đồng bằng sông Cửu Long (Australia tài trợ 160 triệu AUD xây dựng Cầu Cao Lãnh từ 10/2010).

Công nghiệp: hợp tác được triển khai trên 5 ngành lớn : (i) Tìm kiếm thăm dò dầu khí với 04 đối tác chính (Santos International Operation, Arrow Global, Neon Energy và Origin Energy) theo phương thức hợp đồng chia lô sản phẩm ; (ii) Mua bán than: Vinacomin xuất khẩu than vào Australia (gần 131.000 tấn năm 2010, đạt gần 20 triệu USD nhưng đang giảm dần); ký MoU về nhập khẩu than cung cấp cho nhà máy điện với Hancock Coal và ký MoU về hợp tác khai thác than tại đồng bằng sông Hồng bằng kỹ thuật khí hóa than dưới lòng đất với Linc Energy; (iii) Công nghiệp khí ; (iv) Chế biến dầu khí và (v) Đào tạo.

Du lịch: Theo số liệu của Tổng Cục du lịch, trong năm 2010 đã có 278.155 lượt khách Australia vào Việt Nam, tăng 28% so với năm 2009.

Văn hoá-giao lưu nhân dân: Australia ủng hộ công nhận Hoàng thành Thăng Long là Di sản Văn hoá thế giới và tài trợ cho ta 10.000 USD xây dựng các biển chỉ dẫn tại Hoàng thành; đồng thời tổ chức một loạt các hoạt động chào mừng kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội.

VII. CÁC CƠ CHẾ HỢP TÁC GIỮA HAI NƯỚC

Ủy ban Hỗn hợp về Hợp tác Kinh tế - Thương mại (JTEC): Thành lập năm 1990, theo Hiệp định Hợp tác Thương mại và Kinh tế do Bộ trưởng KH-ĐT chủ trì, họp thường niên và luân phiên mỗi nước; lần 9 vào tháng 6/2010. Tại phiên họp lần 6, hai bên thống nhất chỉ họp tiếp khi có vấn đề cần nêu.

Đối thoại an ninh khu vực cấp Thứ trưởng Ngoại giao: Thỏa thuận ban đầu là tổ chức định kỳ 2 năm/lần/luân phiên. Lần 5 năm 2009 tại Hà Nội, hai bên đã nhất trí đối tên thành Đối thoại Chiến lược và đang thu xếp tổ chức kỳ họp lần thứ 6 (dự kiến tại Australia vào năm 2011).

Đối thoại về các tổ chức quốc tế và các vấn đề pháp lý thường niên (chủ yếu là đối thoại về nhân quyền) cấp Vụ trưởng Vụ TCQT, Bộ Ngoại giao; lần 8 vào tháng 02/2011 tại Australia.

Tư vấn lãnh sự giữa hai Bộ Ngoại giao thường niên cấp Cục trưởng Cục Lãnh sự Bộ Ngoại giao; lần 7 vào tháng 12/2011 tại Việt Nam.

Tham vấn quốc phòng song phương thường niên cấp Cục Bộ Quốc phòng; bắt đầu thực hiện từ năm 2005; lần 3 vào tháng 9/2008 tại Australia, dự kiến lần thứ 4 tổ chức tại Hà Nội vào cuối năm 2011.

Tư vấn cấp cao về viện trợ phát triển: Tổ chức 2 năm/lần, bắt đầu thực hiện từ năm 1998, cấp Thứ trưởng Bộ KH-ĐT (đang dự kiến chuyển xuống cấp Vụ trưởng).

VIII. TRAO ĐỔI ĐOÀN CẤP CAO GIỮA HAI NƯỚC

Phía Việt Nam thăm Australia có: Thủ tướng Võ Văn Kiệt (5/1993), Tổng Bí thư Đỗ Mười (30/7-02/8/1995); Chủ tịch Quốc hội Nông Đức Mạnh (3/1998); Thủ tướng Phan Văn Khải (30/3-01/4/1999, 5/2005); Phó Chủ tịch nước Trương Mỹ Hoa (10/2006); Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm (02/1995, 02/1997, 9/2000), Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết và Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm dự Hội nghị APEC (10/2007), Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân (02/2008), Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng (03/2008), Phó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng (5/2008), Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng (10/2008), Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh (9/2009)…và nhiều đoàn khác cấp Bộ/Thứ trưởng các ngành, các đoàn thuộc Quốc hội.

Phía Australia thăm Việt Nam có: Thủ tướng Paul Keating (4/1994); Toàn quyền Bill Hayden (4/1995), Thủ tướng John Howard trong dịp dự Hội nghị Cấp cao APEC và kết hợp thăm Việt Nam (11/2006), Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Thương mại Tom Fisher (8/1996); Bộ trưởng Ngoại giao Alexander Downer đã thăm 6 lần (7/1996, 7/1997, 4/1998, 5/2000, 7/2001, 7/2003), Bộ trưởng Ngoại giao Stephen Smith (7/2008), Chủ tịch Hạ viện Herri Jenkins (01/2009) và Bộ trưởng Nhập cư và Quốc tịch Chris Evans (01/2009); Thủ tướng Julia Gillard dự Cấp cao Đông Á (10/2010), Toàn quyền Quentin Bryce (5/2011). …và nhiều đoàn cấp Bộ/Thứ trưởng khác. Ngoài ra, Lãnh đạo hầu hết các tiểu bang (Queensland, New South Wales, Nam Australia và Victoria) cũng đã thăm ta.

IX. HIỆP ĐỊNH  VÀ THOẢ THUẬN ĐÃ KÝ GIỮA HAI NƯỚC

Một số Hiệp định: Hiệp định Thương mại và Hợp tác kinh tế (6/1990); Hiệp định Thúc đẩy và Bảo hộ Đầu tư lẫn nhau (3/1991); Hiệp định Tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa việc trốn lậu thuế đối với các loại thuế đánh vào thu nhập (4/1992), đã được bổ sung, sửa đổi – (11/1996); Hiệp định bổ sung giữa 2 Chính phủ về cung cấp hàng hóa (7/1993); Hiệp định về Dịch vụ Hàng không (7/1995); Hiệp định Lãnh sự (7/2003); Hiệp định chuyển giao người bị kết án phạt tù (10/2008).

Một số Thoả thuận và Bản Ghi nhớ: Hợp tác Khoa học và Công nghệ (9/1992), Hợp tác Phát triển (5/1993), Hợp tác trong lĩnh vực Sở hữu trí tuệ (9/1995), Trợ giúp lĩnh vực Pháp luật (02/1997), Hợp tác về Môi trường (1997), Hợp tác Thể thao (1999), Hợp tác về vấn đề nhập cư (2001), Hợp tác về các Dịch vụ Xã hội (2002), Hợp tác phòng chống tội phạm xuyên quốc gia (3/2006), Hợp tác về Giao thông vận tải (3/2007), Hợp tác về Giáo dục-Đào tạo (2/2008), Thỏa thuận đối tác giữa Quốc hội Việt Nam và Hạ viện Australia (3/2008), Hợp tác trao đổi thông tin xuất nhập cảnh (13/1/2009), Bản Ghi nhớ giữa Bộ Công an Việt Nam và Cơ quan cảnh sát liên bang Australia trong lĩnh vực đấu tranh chống tội phạm xuyên quốc gia và thúc đẩy hợp tác cảnh sát (8/2009), Bản Ghi nhớ hợp tác giữa Tòa án nhân dân tối cao Việt Nam và Tòa án liên bang Australia (8/9/2009), Bản Ghi nhớ thành lập Trung tâm phòng chống tội phạm xuyên quốc gia tại TP.HCM (13/11/2009), Bản Ghi nhớ về Hợp tác Quốc phòng (11/10/2010), Chương trình Hành động Việt Nam – Australia 2010-2013 (31/10/2010), Thoả thuận nguyên tắc giữa Chính phủ Việt Nam và chính phủ Australia về dự án Kết nối khu vực trung tâm đồng bằng sông Cửu Long (31/10/2010); Bản ghi nhớ về hợp tác trong lĩnh vực kỹ thuật và dạy nghề (25/01/2011); Hiệp định Dẫn độ (9/2011)./.

Tháng  01  năm 2012

 

Chú thích:

1 - Thông tin từ Bộ Công Thương, Vụ Châu Á-Thái Bình Dương và website Tổng cục Hải quan, www.customs.gov.vn

2 - Website Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Công Thương www.fia.mpi.gov.vn

 

 

Tạo bởi hami
Cập nhật 19-01-2012

Copyright by VietNam Ministry of Foreign Affairs